một mớ (draft)

1

“Gợi”

Người mỏi mệt. Tôi bèn nằm xuống.
Mí mắt trĩu nặng. Nên tôi ngủ.
Kí ức mong manh, ở lại đây.

Một lần tôi lạnh. Bố tôi bèn cởi chiếc áo len xanh.
Ông gói tôi trong tấm áo, rồi tôi chẳng bao giờ trả nó lại.
Tấm áo ông mặc đến đất Mĩ,
tấm áo ấy, tấm áo tôi đã lớn vừa, tấm áo ống tay quá dài,
khuỷu tay đã bạc, tấm áo tiễn đi người chính chủ.
Ngày ra xanh rạng rỡ, ngày ra xanh xám xịt,
những nếp gấp sao đen.

Một con người nghiêm túc nghĩ ra bao phức hệ những con số và vần điệu
để nâng đỡ trí nhớ, con người không quên gì bao giờ, như bố tôi
hẳn hổ thẹn vì tôi.
Nào vì tôi chóng quên,
mà bởi chẳng có đâu trình tự
trong trí nhớ tôi, một đống
vụn vặt, không lề lối, không nghĩa lí.
Ví như đây:
Chúa cô đơn. Người tạo ra tôi.
Bố thương tôi. Người bèn đánh tôi.
Người đau đớn vì vậy. Người làm thế ngày ngày.

Trái đất phẳng. Kẻ ngã xuống chẳng quay về.
Trái đất tròn. Với loài người chỉ dần dần sự sự mới tỏ tường.

Chẳng dài lâu. Kí ức ngọt ngào.
Cả đến lúc đau, kí ức vẫn ngọt ngào.

Bấy giờ tôi lạnh. Bố tôi bèn cởi chiếc áo len xanh.

— Lee Li-young, “Mnemonic” (1957).

2

“Áo gối”

[…]

Tôi cháy âm ỉ quá lặng lẽ quá anh có lẽ từng tư lự
tôi có yêu anh chăng. Tôi vẫn, tôi vẫn, mãi tận giờ.

— Annelyse Gelman, “The Pillowcase” (2015).

3

“Để ra chiều huyền bí”

Có mánh riêng cả, từ cách gạt tóc
khỏi đôi mắt, đến cách chống chân ngả người

lên cây chanh góc sân trước nhà
với sợi ruy-băng đỏ vòng quanh cổ tay

mà ngắm bờ rào trắng
chìm vào tuyết trắng.

Con phù du chết đi cùng ngày nó sinh ra.
Con phù du trường sinh.

Chẳng gì trên cõi đời mà là duy nhất
Rất nhiều người sẽ đòi hỏi em phải

đẹp xinh và khẩn thiết, phải tìm ra
cái em không thể có để rồi phải khát khao.

Chớ khát khao. Chớ nản lòng.
Mưa chỉ là mưa trên thinh không.

— Annelyse Gelman, “How to be mysterious” (2015).

4

“đông dương”

không khí rát bỏng mùi cao su và hơi cay chung quanh toán quân đang ngoằn ngoèo luồn qua cánh rừng như một đàn rắn. lên, lên, lên, viên tướng trẻ tuổi liên tục ra hiệu, người anh rạp xuống khi doanh trại địch lọt vào tầm mắt.

“gớm quá,” người phó chỉ huy gắt gỏng với một anh lính, “cậu lại uống nữa đấy hả?”

“rượu gạo ngon nhất bản,” anh lính gầm ghè, “rồi tôi thở chết chúng nó cho xem.”

“im,” viên tướng gắt. anh đang đợi hiệu lệnh của tướng giáp, trong đầu anh vẽ ra cơ man những bản đồ chiến lược. song vẫn còn sớm, họ bèn ngả mình trên mặt đồi mà chờ đợi. đêm hơi nực và yên ắng, theo cái lối như mọi khi trước mỗi bận gió lào về.

“đồng chí đại đoàn trưởng, đồng chí nhớ vợ à?” viên phó chỉ huy hỏi.

viên tướng nằm dài, anh nhún vai, mắt rợp những sao trời và cỏ lau. nói tướng giáp kềm quân đến tháng tư, chị van lơn, đợi em đến giơ-ne-vơ. em thề, mình sẽ mang hòa bình về.

ngày cả hai còn bé tí, chánh quyền đã đốt trụi con thuyền của cha chị cùng cả em trai chị vẫn còn trên đó, bởi thế nên anh vẫn thường cho rằng người căm phẫn hơn cả phải là chị mới đúng. anh nói với chị, và môi chị trễ xuống.

ấy là điều anh không hiểu đấy, người yêu ạ, chị nói, đôi tay dịu dàng lướt qua mắt anh. có nhiều cách căm phẫn. em ôm nỗi hờn như ngọn nến, còn anh vung nó như lửa hoang.

ấy vậy mà mới có một tuần thôi ư?

tướng giáp phát hiệu lệnh đợt tấn công đầu tiên, và rồi ngày trôi đi, quân viễn chinh ắt bại. một đội quân chưa từng biết thế nào là chiến đấu trên một mảnh đất không phải của mình, những tên lửa ca-chiu-sa không hề biết lạc. tháng năm, ngày mồng một, viên tướng trẻ ra lệnh bắn, mũi pháo phản lực rít xuyên tầng không rồi đâm thẳng vào trận địa địch.

súng trong tay, viên tướng bước tới chỗ những kẻ còn sống sót hiếm hoi đang quằn quại trong cát bụi. anh ngắm vào trán kẻ địch; anh nhìn thẳng vào mắt con người ấy.

lửa hoang, chị thầm thì chỉ để mình anh nghe.

“đông dương của các người đã chết,” anh nói trước lúc nổ súng, những lời không còn cần phải thốt ra bằng tiếng pháp, mùi vị chiến thắng đã vờn chung quanh.

— Thea (tumblr: kylorenvevo), “indochine,” let that be your last battlefield (2013).

[Les Misérables, AU fanfic, Enjolras/Éponine]

[a few notes:
>> historical (in)accuracies:
– cánh quân nào? đại đoàn công pháo 351 (wiki)
– “general” : quân hàm hay xưng hô chung? có bao nhiêu người được phong quân hàm cấp tướng ở thời điểm điện biên phủ? (tạm dịch: “đại đoàn trưởng”)
– tên lửa cachiusa không được sử dụng vì lí do địa hình chiến lược (wiki)

>> things that don’t get translated:
– the intentional use of Vietnamese (“người yêu”)
– the original name corps expeditionaire in French

>> phiên âm chủ quan: “geneva” = “giơ-ne-vơ” vì lmao sách giáo khoa I’m a conservative northerner what can I do??]

5

“Lầm một bước thôi là cô ả đây đứt phựt như một lời hứa ngay.”

— “Margaret Blaine”/Blon Fel-Fotch Passameer-Day Slitheen, “Boom Town,”
writ. Russell T Davies, perf. Annette Badland, Doctor Who, BBC (2005).

Advertisements
Standard

4 thoughts on “một mớ (draft)

      • mún dịch một cún có câu này nè: “I would like to fly on a broomstick and dance in the moonlight with other pagan witches in the forest, invoking earth forces and howling demons; I want to become a wise old crone, to learn ancient spells and healers’ secrets. It is no small thing, this design of mine. Witches, like saints, are solitary stars that shine with a light of their own; they depend on nothing and no one, which is why they have no fear and can plunge blindly into the abyss with the assurance that instead of crashing to earth, they will fly back out. They can change into birds and see the world from above, or worms to see it from within, they can inhabit other dimensions and travel to other galaxies, they are navigators on an infinite ocean of consciousness and cognition.”

bung bung cà bung

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s